Jump to content
Sign in to follow this  
AZ

Sơ Lược Lịch Sử Âm Nhạc Guitar Việt Nam

Recommended Posts

Đàn guitar vào Việt Nam từ bao giờ? Bằng những con đường nào? Cho đến nay khó có ai có thể trả lời cho thật chính xác. Có nhiều giả thuyết khác nhau, nhưng chắc chắn không ngoài con đường du nhập của âm nhạc châu Âu vào Việt Nam. Có thể do các cố đạo Tây Ban Nha đưa vào từ đầu thế kỷ XIX; có thể theo các ban nhạc Phillipines, Malaysia đến chơi đàn ở các tiệm rượu vào những năm 20 của thế kỷ XX; có thể do những nghệ sĩ guitar nước ngoài đến kiếm sống ở Việt Nam; cũng có thể có những người Việt Nam thuộc tầng lớp thượng lưu đi qua Pháp mang về. theo ý kiến nhiều người thì từ cuối những năm 1920 mới lác đác có người Việt Nam cầm đàn guitar.

Vào khoảng những năm 20 của thế kỷ này, thầy Sáu Tiên ở Rạch Giá (Nam Bộ) sau nhiều lần thử nghiệm, cuối cùng đã chọn cây đàn guitar, khoét lõm các phím đàn và lên dây theo hệ thống âm giai ngũ cung (Vietnamese traditional pentatonic) "Líu, Xề, Líu Hò, Lìu" để đàn các bài bản cải lương. Có thể nói các nghệ sĩ cải lương là những nghệ sĩ guitar đầu tiên của Việt Nam. Cây đàn guitar phím lõm quả là một sáng tạo riêng của người Việt Nam, bổ sung cho họ hàng guitar một dòng mới: guitar cải lương. Dòng guitar này rất phổ biến trong nhạc tài tử Nam Bộ trước 1945 với những tên tuổi nổi tiếng như Tư Chơi, Ba Kéo, Bây Cây, Chín Hòa, Phùng Há, Năm Phỉ, Văn Vĩ... Cũng là điều thú vị khi sau này một rock guitarist nổi tiếng người Thụy Điển thuộc hạng thượng thừa (virtuoso) vào thập niên 1980 là Yngwie J. Malmsteen cũng khoét lõm các phím đàn guitar điện của mình để tạo ra những âm sắc lạ.

Vào những năm 30, số người chơi guitar theo lối tân nhạc đã dần dần nhiều lên. Bên cạnh những người nước ngoài như Benito (người Phillipines), Nàn Hếnh hay còn gọi là William Chấn (người Hoa) đã thấy xuất hiện những tên tuổi Việt Nam như Phan Văn trường, Canh Thân, Đỗ Chí Khang, Thiện Tơ, Dương Thiệu Tước.. Con đường đi đến với nghệ thuật guitar của các nghệ sĩ Việt Nam quả là gian khổ: học qua người nước ngoài, tự học theo sách, học mót và học lóm. Không có gì ngạc nhiên khi thấy việc trình tấu đàn guitar thời kỳ này khá hỗn độn. Phổ biến nhất là đàn Hạ Uy cầm (hawaiian guitar), rồi đến guitar đệm cho nhạc nhẹ, họa hoằn lắm mới có người chơi độc tấụ Thời kỳ này phổ biến dạng ban nhạc gồm 4 nhạc cụ: hawaiian guitar, guitar 6 dây, contrabass, và Ukulele, chơi hòa tấu trong các phòng trà hoặc quán bar. mãi đến cuối những năm 40 mới có Đỗ Chí Khang, Dương Thiệu Tước, Phạm Ngữ, Tạ Tấn... là 2 những người đầu tiên đi sâu vào nghệ thuật độc tấu Đàn guitar khá thịnh hành trong giới sinh viên học sinh. Thời kỳ này cũng xuất hiện nhiều hiệu làm đàn guitar làm ăn phát đạt ở Hà Nội như Nhạc Sơn, Kim Thanh, Tạ Tấn... Theo ý kiến một số người, cây đàn guitar đầu tiên ở Việt Nam do cụ Xuân Lan, người làng Đào Xá (Hà Nội) làm ra năm 1932.

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ giai đoạn 1945-1954, cây đàn guitar với những ưu điểm có một không hai của nó đã trở thành người bạn đường thân thiết của các nhạc sĩ kháng chiến. Ta thấy xuất hiện nhiều tác giả đồng thời là người đệm guitar rất giỏi như Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Phạm Duy, Văn Ký, Hoàng Vân, Trọng Bằng, Văn Chung, Tô Vũ, Nguyễn Văn Tí... Đàn guitar hầu như là nhạc cụ chính mà các nhạc sĩ dùng để sáng tác.

Năm 1954, đất nước bị chia cắt vì Hiệp định Geneva thì nghệ thuật guitar Việt Nam cũng tạm thời bị chia cắt theo. Ở miền Bắc, Trường âm nhạc Việt Nam khai giảng niên khóa đầu tiên năm 1956 đã có bộ môn guitar dưới quyền chủ nhiệm của Phạm Ngữ. Từ đó phong trào chơi guitar bắt đầu phát triển mạnh ở miền Bắc. Các tác giả Lê Yên, Tạ Tấn, Phạm Ngữ, Đức Minh, Tạ Bắc... đã cho xuất bản nhiều sách giáo khoa và nhạc phẩm có giá trị cho cây đàn guitar. Nhạc phẩm soạn cho đàn guitar vào thời kỳ này phần lớn là chuyển soạn (arrangement) từ các ca khúc Việt Nam nổi tiếng hay biến tấu (variation) trên các làn điệu dân cạ Nguồn tiếp xúc với nhạc guitar cổ điển Tây Phương chủ yếu là qua các sách và băng đĩa nhạc guitar do Liên Xô (cũ) và Đông Âu viện trơ.. Năm 1963, nghệ sĩ guitar Tạ Tấn đoạt huy chương vàng tai Hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc với bài độc tấu "Lưu thủy". Các lớp dạy guitar được tổ chức tại hầu hết các nhà nghệ thuật quần chúng. Buổi trình diễn guitar độc tấu đầu tiên ra mắt công chúng tại Hà Nội năm 1973 đã được hoan nghênh nhiệt liệt. Bên cạnh các bậc đàn anh đã xuất hiện tên tuổi các nghệ sĩ lớp trẻ hơn như Hải Thoại, Đỗ Trường Giang, Vũ Bảo Lâm, Quang Khôi, Phạm Văn Phúc, Nguyễn Văn Ti.., Nguyễn Quang Tôn, vv.... Nhưng có lẽ nghệ sĩ guitar đáng chú ý nhất ở miền Bắc trong giai đoạn này lại là Văn Vượng? Một nghệ sĩ bị khiếm thị từ nhỏ và tự học đàn guitar qua tai nghe nhưng đã chuyển soạn nhiều tác phẩm có giá trị cho cây đàn 6 dây này.

Xét cho công bằng, do hoàn cảnh chiến tranh, thiếu bài bản và điều kiện tổ chức, thiếu cả sự liên hệ với nền nghệ thuật guitar thế giới, và thiếu cả nghệ sĩ guitar bậc thầy được đào tạo chính quy nên nghệ thuật guitar ở miền Bắc lúc đó phát triển chậm và không đều.

Ở miền Nam, đàn guitar phát triển có phần thuận lợi hơn. Những lần viếng tham và trình diễn tại Sài Gòn của các nghệ sĩ guitar tên tuổi thế giới như Siegfried Behrend, Julian Bream, Alice Artzt, vv... đã tạo điều kiện cho các nghệ sĩ guitar ở đây tiếp xúc với nền nghệ thuật guitar thế giớị Đàn guitar được đưa vào chương trình giảng dạy của 2 trường Quốc gia Âm nhạc Huế và Sài Gòn từ 1956. Từ chỗ phổ biến trong các phòng trà, đã có nhiều nghệ sĩ đi vào nghệ thuật độc tấu. Các dòng guitar cùng song song phát triển và cũng xuất hiện nhiều tên tuổi nổi bật: về guitar cổ điển có Đỗ Đình Phương, Trương Huệ Mẫn, Võ Tá Hân, Lê Xuân Cảnh, Phùng Tuấn Vũ..., về guitar flamenco có Hoàng Bửu, Trần Văn Phú,. ... về guitar jazz có Hoàng Liêm, Văn Trổ, Văn Tài, Sĩ Thanh...

Sau 1975, các nghệ sĩ guitar hai miền có dịp gặp nhau, trao đổi kinh nghiệm, bài bản và kỹ thuật cho nhaụ Nghệ thuật guitar đã có cơ sở vững vàng để phát triển. Và một ghi nhận xứng đáng phải dành cho công lao xây dựng phong trào guitar của Nhà văn hóa quận Phú Nhuận, Tp. HCM. Chính từ những cuộc biểu diễn khá đều đặn trong những năm 1980 tại thính phòng nhỏ của Nhà văn hóa này mà công chúng yêu nhạc cổ điển Sài Gòn đã quen thuộc với một loạt tên tuổi mới của làng guitar như Phạm Quang Huy, Châu Đăng Khoa, Nguyễn Thái Cường, Huỳnh Hữu Đoan, Dương Kim Dũng,... có cả những nghệ sĩ nữ tài năng như Ngô Thị Minh, Nguyễn Thị Phi Loan... Thập niên 1980 cũng có thể nói là giai đoạn chín mùi về tài năng và đỉnh cao về nghệ thuật của Phùng Tuấn Vũ nghệ sĩ guitar hàng đầu Việt Nam và là người góp phần đào tạo hàng loạt tên tuổi mới của guitar Việt Nam sau này. Trong khi đó, ở Hà Nội cũng xuất hiện những tài năng mới đầy triển vọng như Đặng Ngọc Long, Phan Đình Tân, Phạm Văn Phương, Nguyễn Lan Anh... Trong số những cái tên vừa kể, Đặng Ngọc Long được đi tu nghiệp về guitar ở Đông Đức. Anh chính là guitarist đầu tiên của Việt Nam được theo học tại một quốc gia có nền nghệ thuật guitar phát triển.

Nhưng từ 1990, làn gió kinh tế thị trường đã phần nào làm mai một lòng say mê âm nhạc guitar cổ điển của công chúng hâm mô.. Mặc dù các cuộc thi guitar toàn quốc bắt đầu được tổ chức quy mô, với sự hỗ trợ của những guitarist Việt Nam sống nước ngoài như anh Võ Tá Hân ở Singapore, giới guitar cổ điển hiện nay hầu như chỉ thu gọn trong giới học sinh và sinh viên nhạc viện. Những tên tuổi đã thành danh không thể sống chuyên nghiệp với tiếng đàn của mình vì không có điều kiện trình diễn hay ghi âm thu băng đĩa. Một số may mắn sống được nhờ dạy đàn guitar tại nhạc viện và tại tư gia. Số khác phải chuyển sang chơi nhạc nhẹ ở các quán bar hay nhà hàng. Một số không nhỏ rời Việt Nam sang định cư ở nước ngoài như Nguyễn Thái Cường, Nguyễn Trí Toàn, Mai Công Kiều, Huỳnh Hữu Đoan... nhưng trong số những người này thì hầu như không còn ai đeo đuổi guitar. Phải chăng guitar cổ điển Việt Nam hiện chỉ còn là một tình yêu âm ỉ trong lòng chúng ta như một mối tình đầu đời tuyệt đẹp nhưng dang dở... ?

Source: Tap Chi Am Nhac

Share this post


Link to post
Share on other sites

Nhạc sỹ Dương Thiệu Tước (19151995)

Nhạc sỹ Dương Thiệu Tước quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông nay thuộc Hà Nội. Gia đình ông là một gia đình Nho học truyền thống. Ông là cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học Nam Định – người mà khi mất đã làm ông Tam nguyên Yên đổ Nguyễn Khuyến xúc động với bài thơ nổi tiếng “khóc Dương Khuê”. Ông vào miền Nam sinh sống từ năm 1954. Tại Sài Gòn ông được mời làm giáo sư dạy ghi-ta tại trường Quốc gia Âm nhạc và đã đào tạo ra những nghệ sỹ ghi-ta đầu tiên của Sài gòn như nghệ sỹ ghi-ta Võ Tá Hân.

220px-Duong_Thieu_Tuoc.JPG


Nguyễn Thiện Tơ - một trong những guitarist đầu tiên ở Hà nội

Nguyễn Thiện Tơ sinh năm Tân Dậu – 1921 tại số 22 Ruy Sa-rông (Rue Charron), sau Cách mạng tháng Tám đổi là phố Lê Bình, từ thời tạm chiếm đến nay được đổi là phố Mai Hắc Đế. Ông bộc lộ thiên hướng âm nhạc từ nhỏ. Trong khi những đứa trẻ cùng lứa ham đánh bi, đánh đáo, thả diều thì cậu bé Thiện Tơ lại thích lân la ở những nơi có tiếng đàn tiếng hát. Khoảng năm lên bảy, cậu mêm mẩn tiếng harmonica của một thanh niên chiều nào cũng véo von những bài La vi ăng rô-dơ ( La vie en rose), Gie đơ da-mua ( J’ai deux amour) …

nguyenthiento.jpg

Chí hướng đi theo con đường âm nhạc nảy sinh từ đó. Năm 12 tuổi ( 1933) cậu được thầy Trần Đình Khuê nhận dạy ghi-ta. Thầy Trần Đình Khuê là con cụ Trần Đình Thư, chủ một cửa hiệu bán và sửa chữa nhạc cụ ở phố Tràng thi nổi tiếng Hà nội thời đó. Thấy Thiện Tơ chơi lên tay, nhất là “Những biến tấu của Rô-xi”, thầy khen ngợi và cho phép được biểu diễn song tấu cùng thầy tại Đài phát thanh Pê-ni-nie (Péninière) gần Trường Bưởi. Sau đó ít lâu, Thiện Tơ chuyển sang học thầy Bê-ni-tô (Benito) cùng Bạch Thái Chín - con cụ Bạch Thái Bưởi và anh Lâm nghệ sỹ băng-giô. Về sau Thiện Tơ và Lâm thường sát cánh trong ban nhạc jazz biểu diễn nhiều lần tại Quần ngựa trước đám đông thính giả mà phần lớn là người Tây.

Học phí của thầy Bê-ni-tô quá cao nên ông đã mở lớp dạy ghi-ta để có thêm tiền bù vào. Tuy nhiên thu nhập cả tháng từ việc dạy chỉ đủ trả học phí cho thầy một giờ nên ông phải tính chuyện lập nhóm tự học. Ý tưởng của ông được những guitarrist cùng thời như Đỗ Chí Khang, Ngọc Bích, Từ Ngọc Liên tán thưởng và nhóm nhạc ghi-ta đã hình thành. Mọi người cùng sáng tác, tập rượt và thi thoảng còn được mời biểu diễn ở Rạp chiếu bóng Bạch mai. Ông chăm chỉ luyện tập, tìm tòi sách vở tài liệu và dạy đàn. Nhiều người tìm đến học ông, đông nhất là đám sinh viên trường thuốc. Một số nghệ sỹ đã thành danh với cây ghi-ta như Nguyễn Doãn Mẫn, Nguyễn Văn Quỳ, đặc biệt là Đoàn Chuẩn đều khai tâm ở các khóa ghi-ta của thầy Thiện Tơ.

Năm 1938 ông cùng người học trò của mình là Trần Thức được ông Trưởng hướng đạo sinh và Hội từ thiện Nam định mời xuống biểu diễn ở thành Nam. Buổi biểu diễn đã đem lại thành công rực rỡ. Nhưng theo lời ông thì “thành công lớn nhất trong chuyến đi ấy là chính tôi đã đệm đàn cho nữ ca sỹ thành Nam Vũ Hà Tiên hát một số bài nổi tiếng và qua công việc, tình yêu giữa hai chúng tôi đã chớm nở”. Vũ Hà Tiên là một tiểu thư nổi danh tài sắc, đặc biệt là giọng hát hay. Nhiều đàn anh nổi tiếng trong giới cầm ca như Đặng Thế Phong, Phạm Duy, Lê Thương cùng ngỏ lời cầu hôn nhưng không được cô đáp lại, thế mà chỉ một lần gặp gỡ Thiện Tơ đã may mắn lọt vào mắt xanh của giai nhân. Thế nhưng có một trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua. Đó là gia đình Hà Tiên mấy đời theo Thiên chúa giáo khó mà chấp nhận con gái kết hôn với người ngoại đạo. Do đó chàng nhạc sỹ đa tình phải liên tục con thoi đi về Hà nội – Nam định ròng rã bốn năm trời mới thuyết phục nổi bố mẹ, họ hàng nhà gái mới được “rước nàng về dinh”. Thiên tình sử hết sức lãng mạn nhưng cũng đầy gian nan.

Giai nhân Vũ Hà Tiên đã gợi cảm hứng cho ông đã sáng tác được ca khúc “Giáo đường in bóng”. Hai năm sau tức năm 1940 nhạc phẩm “Gió chiều” ra đời. Cả hai nhạc phẩm đều lấy cảm hứng từ mối tình lãng mạn giữa ông và người đẹp thành Nam. Do chiến tranh, bản thảo của cả hai nhạc phẩm đều bị thất lạc mà ông không hy vọng tìm thấy. Thế nhưng gần đây có một người , mà lại là người nước ngoài tìm đến nhà ông trao tận tay ông bản chụp cả hai ca khúc đó. Số là có một người Mỹ chuyên sưu tầm nhạc Việt nam là Giây-xơn Gíp (Jason Gibb) trong lần đến Hà nội đã phát hiện ở Phòng lưu trữ Thư viện quốc gia bản thảo “Giáo đường in bóng” và “Gió chiều” rồi tìm cách trao cho tác giả của nó.

Nói đến Thiện Tơ là nói đến một nghệ sỹ ghi-ta tài năng, một trong những nghệ sỹ ghi-ta đầu tiên của Hà nội, một người thầy tận tâm đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo ra thế hệ những nghệ sỹ ghi-ta đầu tiên của Hà nội. Ông là một trong số ít nghệ sỹ ghi-ta sử dụng thành thạo ba loại ghi-ta: ghi-ta gỗ, ghi-ta ha-oai và ghi-ta điện. Trong các buổi biểu diễn hoặc ghi âm ông đều thành công trong các loại hình độc tấu, hòa tấu, jazz hoặc đệm cho ca sỹ.

Khoảng cuối năm 1944, ông tham gia ban nhạc jazz Mi-ô-dô-tít (Myosotis – Hoa lưu ly) cùng Nguyễn Hữu Hiếu – piano, Đỗ Xuân Cách – clarinette / saxophone, Ngô Văn Sợi – trompette, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Thái quý – contrebasse, Nguyễn Văn Long – violon, Hoan – percussion (bộ gõ). Ông cũng thường xuyên tham gia biểu diễn phát sóng trên một số đài phát thanh với nhóm Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Nguyễn Chí Nhường –saxophone, Nguyễn Trần Dư – violon. Trong nhóm này, nổi bật hai nhạc sỹ với hai xu hướng sáng tác thu hút được sự chú ý của giới âm nhạc lúc đó:

  • Sáng tác nhạc mới nhưng có âm hưởng nhạc dân tộc do Thẩm Oánh chủ trương.
  • Sáng tác hoàn toàn theo phong cách âm nhạc phương Tây do Dương Thiệu Tước chủ trương. Ông viết trên báo Việt Nhạc số 5 – 16/10/ 1948: "Nếu đã có nhà văn Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng có thể viết được những bản nhạc có âm điệu Tây Phương"

Trong hoạt động biểu diễn nhạc jazz của Thiện Tơ thì gây ấn tượng nhất là ban nhạc jazz Tricéa mà ông là một trong những thành viên sáng lập. Ban nhạc gồm Doãn Mẫn (học trò ông) – ghi-ta, Lê Yên – violon, Văn Chung – tam thập lục. Nguồn gốc của tên ban nhạc là Tricéa là: tri – là tam tấu (trio), là chữ cái C trong tiếng Pháp – compositeurs (những nhà soạn nhạc), a là an-na-mít (annamite), nghĩa là “ ban tam tấu của những nhạc sỹ người Việt sáng tác và trình diễn”. Cũng có người giải thích bằng cách khác: tri là ba, Tricéa là “3 chữ CA” trong cụm từ tiếng Pháp “Collection Des Chants Composés Par Des Artistes Annamites Associés” có nghĩa là "Tuyển chọn các nhạc phẩm được sáng tác bởi nhóm nghệ sỹ An-nam".

Phong cách âm nhạc của Văn Chung chịu ảnh hưởng của nhạc Trung Hoa nên đã mang màu sắc Á Đông từ buổi đầu. Còn Lê Yên và Doãn Mẫn vẫn thiên về tiết tấu bay bướm nên gợi nhiều âm hưởng nhạc nước ngoài. Trong một bài phỏng vấn của báo Thể thao Văn hóa năm 2002, nhạc sỹ Doãn Mẫn kể: "Năm 1935, Lê Yên viết bài Bẽ bàng rất hay nhưng mãi không sao viết được câu kết. Nghe anh kể tôi liền đề nghị: Anh đàn lên đi, khi nghe xong, tôi tức khắc ứng khẩu. Được câu ứng khẩu như ý bạn tôi mừng như vớ được vàng. Đến năm 1955, tôi viết bài Gọi nghé trên đồng mà cũng không kết được và Lê Yên chính là người giúp tôi viết kết rồi anh ấy nói: sau tận 20 năm mình mới trả được nợ cho cậu".

Những năm khoảng 1939-1040 nhiều ca khúc của nhóm được thính giả yêu thích như: Ca khúc ban chiều, Trên thuyền hoa, Bóng ai qua thềm của Văn Chung; Biệt ly, Sao hoa chóng tàn, Tiếng hát đêm thu của Doãn Mẫn; Bẽ bàng, Vườn xuân của Lê Yên. Cả ba nhạc sĩ của Tricéa đều thành công mà Doãn Mẫn có vẻ nổi bật. Họ đã để lại nhiều nhạc phẩm giá trị, một số được đánh giá là “vượt thời gian”.

Nguyễn Thiện Tơ về hưu năm 1982 lúc 62 tuổi, nhưng những năm 1984, 1985 ông lại được mời dạy flute (fơ-luýt – sáo Tây) tại Nhạc viện Hà nội và Cung văn hóa Thiếu nhi. Ông chỉ nhận dạy ghi-ta cho một số người hết sức đặc biệt với ông. Ông nói: ghi-ta là nhạc cụ bề ngoài có vẻ đơn giản, tập ít tháng ai cũng có thể chơi được nhưng không ai, kể cả những bậc thầy thế giới, dám nói mạnh là mình đã khám phá hết tiềm năng của nó. Chỉ có những người chưa giỏi thực sự mới vỗ ngực khoe khoang. Cả đời tôi đã xách đàn biểu diễn nhiều nơi không biết bao nhiêu lần, mở biết bao khóa dạy đàn với hàng trăm học trò vậy mà còn biết bao bí ẩn bên trong cây đàn chưa kịp khám phá thì đã già mất rồi. Tôi rất yêu tiếng đàn của anh Bảo Lâm vì nó vừa trung thực vừa có cá tính. Nhiều lần cũng định vác đàn đến học hỏi anh ấy nhưng nghĩ mình tuổi đã cao nên lại thôi…

Cây ghi-ta có mặt ở nước ta kể đã trăm năm. Từ lâu nó đã trở thành nhạc cụ thân quen với mọi người: từ biểu diễn âm nhạc hàn lâm, rồi Liên hoan cấp quốc gia đến phòng trào âm nhạc quần chúng. Thời chiến nó còn theo bộ đội đi khắp các chiến trường …Ngày nay, những người gắn bó với cây ghi-ta dù chuyên nghiêp hay không đều may mắn hơn thời chúng tôi vì có quá nhiều thuận lợi: dễ dàng tìm nơi học đàn, sách vở, băng đĩa rất sẵn lại còn có internet mà trên đó có thể tìm được mọi thứ. Đàn bây giờ cũng sẵn và dễ mua: từ loại vài trăm nghìn tiền Việt cho những học sinh nghiệp dư đến hàng chục nghìn đô-la cho những nghệ sỹ chuyên nghiệp.

36_nhac_tho1.jpg

Lúc sắp chia tay ông mới ngán gọn tâm sự chuyện nhà: tôi năm nay đã chín hai, bà nhà cũng xấp xỉ, Trời còn cho sống nhưng cũng nhiều bệnh tật. Chúng tôi có năm trai, ba gái với khoảng ba mươi cháu chắt cũng tạm coi là “oanh liệt” được rồi. Những tay giang hồ kiếm khách nổi tiếng một thời nhưng rồi đến tuổi nào đó cũng phải rửa tay gác kiếm. Cánh đàn địch chúng tôi cũng vậy thôi, tầm tuổi này mới treo đàn cũng là hơi muộn. Tuy nhiên vẫn theo dõi thời cuộc, ấy là nói riêng về cây ghi-ta, mừng rằng ở ta vẫn phát triển mạnh và hứa hẹn nhiều triển vọng …

(Theo ghi chép của Trần Xuân trong khi cùng các guitarist thế hệ sau của Hà Nội đến thăm guitarist già)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Nguyen Tri Toan (hien la Bac Si tai Benh Vien Nhi Dong) va van thuong xuyen trinh dien guitar.

Huynh Huu Doan van thuong xuyen sinh hoat tai Orange County.

Anh baogiobiettuongtu, Nguyễn Trí Toàn không phải bác sĩ. Sự nhầm lẫn này ngày xưa đôi khi cũng xảy ra trên báo vì sự gần giống tên một cách khá ngẫu nhiên. Nguyễn Trí Toàn sống định cư ở Đức từ 1988, đã đoạt giải nhất trong 1 cuộc thi guitar quốc tế (hình như tại Freschen (Đức)?) vào năm 1994. Thực ra thì Nguyễn Trí Toàn và Nguyễn Trí Đoàn cũng là bạn chơi đàn khá thân và chơi song tấu khá ăn ý. Người mà anh baogiobiettuongtu nói là làm ở BV nhi đồng là Nguyễn Trí Đoàn (giờ đã làm chỗ khác rồi) :-)

Share this post


Link to post
Share on other sites

Cuốn sách viết về sự hình thành và phát triển của Guitar cổ điển ở Hà nội vừa được in. Chỉ tiếc là vì Hội âm nhạc HN không có kinh phí nên chỉ in để lưu hành nội bộ (tặng ) mà không phát hành rộng rãi.

post-402-138316765315_thumb.jpg

Share this post


Link to post
Share on other sites

Create an account or sign in to comment

You need to be a member in order to leave a comment

Create an account

Sign up for a new account in our community. It's easy!

Register a new account

Sign in

Already have an account? Sign in here.

Sign In Now
Sign in to follow this  

×