Jump to content

hvktqs

Members
  • Content count

    21
  • Joined

  • Last visited

About hvktqs

  • Rank
    2nd Lieutenant

Contact Methods

  • Website URL
    http://hocghita.vn/index.php?lang=vi

Converted

  • Interests
    classical music
  • Occupation
    musical teacher
  1. Bổ sung tôi vào danh sách các guitarist bị chứng này . Đã đi bấm huyệt châm cứu nhiều nơi và khỏi được tay trái. Nhiều lần tưởng khỏi cả tay phải nhưng chỉ được một thời gian ngắn lại xấu dần. Theo kinh nghiệm của tôi thì phát hiện sớm các triệu chứng thì nên điều trị bằng bấm huyệt hoặc châm cứu thường xuyên thì có thể ổn định. Triệu chứng bệnh này không chỉ thấy lúc chơi đàn, ngồi gõ PC 30' là bàn tay mỏi rã . Cô bạn tôi cũng dịch cuốn Musicophilia của Oliver Sacks nói về chứng bệnh này. Dịch theo đơn hàng của Nhã Nam nhưng chưa thấy xuất bản: https://sites.google.com/site/quanachin/sach-sap-xuat-ban/chung-me-nhac.
  2. Một ví dụ về nhạc đương đại: Đây là tổng phổ của một bản nhạc đương đại mà con trai tôi đang học theo một lớp nhạc đương đại và điện tử do các chuyên gia châu Âu giảng dạy tại Học viện âm nhạc QG . Các con số theo chiều ngang là các ô nhịp .Tại mỗi thời điểm đó mỗi nhạc cụ tham gia sẽ chơi một cách định tính: to dần, nhỏ dần và chơi gì cũng được. Đôi chỗ phải chơi theo nốt có sẵn. Sau buổi đầu tiên, các cháu bảo nhau: chơi thế này thì cần gì phải học nhạc như trước đây nữa :w00t:. Cách ký hiệu như vậy có khác mấy thời kỳ ghi nơm vào trước thế kỷ 10, khi mà Guido D'Arezzo chưa xây dựng cách ghi âm bằng nốt.
  3. Cuốn sách viết về sự hình thành và phát triển của Guitar cổ điển ở Hà nội vừa được in. Chỉ tiếc là vì Hội âm nhạc HN không có kinh phí nên chỉ in để lưu hành nội bộ (tặng ) mà không phát hành rộng rãi.
  4. Theo cảm nhận của mình thì lý do để cụ Segovia bỏ qua Barrios chính vì Barrios tự nhận mình là "Paganini của guitar" đã chạm vào tính tự ái khủng khiếp của Segovia. Barrios là Paganini cảu guitar theo mình là ông nhận về phần âm nhạc của mình với guitar so với âm nhạc của paganini với violon chứ không phải ông khoe về khả năng chơi đàn. , nhạc của Barrios đòi hỏi người chơi guitar nâng hẳn một tầm kỹ thuật đặc biệt là tay trái so với âm nhạc của các nhạc sĩ trước ông, âm nhạc của Chopin với piano và paganini với violon cũng tương tự như vậy. Còn phong cách âm nhạc của ông rõ ràng đày chất thơ như Chopin, có khác biệt đôi chút là trong âm nhạc của Barrios tôi còn còn thấy cách tiến hành bè trầm của ông mang đậm chất phức điệu của Bach vĩ đại.
  5. Nhạc sỹ Dương Thiệu Tước (1915–1995) Nhạc sỹ Dương Thiệu Tước quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông nay thuộc Hà Nội. Gia đình ông là một gia đình Nho học truyền thống. Ông là cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học Nam Định – người mà khi mất đã làm ông Tam nguyên Yên đổ Nguyễn Khuyến xúc động với bài thơ nổi tiếng “khóc Dương Khuê”. Ông vào miền Nam sinh sống từ năm 1954. Tại Sài Gòn ông được mời làm giáo sư dạy ghi-ta tại trường Quốc gia Âm nhạc và đã đào tạo ra những nghệ sỹ ghi-ta đầu tiên của Sài gòn như nghệ sỹ ghi-ta Võ Tá Hân. Nguyễn Thiện Tơ - một trong những guitarist đầu tiên ở Hà nội Nguyễn Thiện Tơ sinh năm Tân Dậu – 1921 tại số 22 Ruy Sa-rông (Rue Charron), sau Cách mạng tháng Tám đổi là phố Lê Bình, từ thời tạm chiếm đến nay được đổi là phố Mai Hắc Đế. Ông bộc lộ thiên hướng âm nhạc từ nhỏ. Trong khi những đứa trẻ cùng lứa ham đánh bi, đánh đáo, thả diều thì cậu bé Thiện Tơ lại thích lân la ở những nơi có tiếng đàn tiếng hát. Khoảng năm lên bảy, cậu mêm mẩn tiếng harmonica của một thanh niên chiều nào cũng véo von những bài La vi ăng rô-dơ ( La vie en rose), Gie đơ da-mua ( J’ai deux amour) … Chí hướng đi theo con đường âm nhạc nảy sinh từ đó. Năm 12 tuổi ( 1933) cậu được thầy Trần Đình Khuê nhận dạy ghi-ta. Thầy Trần Đình Khuê là con cụ Trần Đình Thư, chủ một cửa hiệu bán và sửa chữa nhạc cụ ở phố Tràng thi nổi tiếng Hà nội thời đó. Thấy Thiện Tơ chơi lên tay, nhất là “Những biến tấu của Rô-xi”, thầy khen ngợi và cho phép được biểu diễn song tấu cùng thầy tại Đài phát thanh Pê-ni-nie (Péninière) gần Trường Bưởi. Sau đó ít lâu, Thiện Tơ chuyển sang học thầy Bê-ni-tô (Benito) cùng Bạch Thái Chín - con cụ Bạch Thái Bưởi và anh Lâm nghệ sỹ băng-giô. Về sau Thiện Tơ và Lâm thường sát cánh trong ban nhạc jazz biểu diễn nhiều lần tại Quần ngựa trước đám đông thính giả mà phần lớn là người Tây. Học phí của thầy Bê-ni-tô quá cao nên ông đã mở lớp dạy ghi-ta để có thêm tiền bù vào. Tuy nhiên thu nhập cả tháng từ việc dạy chỉ đủ trả học phí cho thầy một giờ nên ông phải tính chuyện lập nhóm tự học. Ý tưởng của ông được những guitarrist cùng thời như Đỗ Chí Khang, Ngọc Bích, Từ Ngọc Liên tán thưởng và nhóm nhạc ghi-ta đã hình thành. Mọi người cùng sáng tác, tập rượt và thi thoảng còn được mời biểu diễn ở Rạp chiếu bóng Bạch mai. Ông chăm chỉ luyện tập, tìm tòi sách vở tài liệu và dạy đàn. Nhiều người tìm đến học ông, đông nhất là đám sinh viên trường thuốc. Một số nghệ sỹ đã thành danh với cây ghi-ta như Nguyễn Doãn Mẫn, Nguyễn Văn Quỳ, đặc biệt là Đoàn Chuẩn đều khai tâm ở các khóa ghi-ta của thầy Thiện Tơ. Năm 1938 ông cùng người học trò của mình là Trần Thức được ông Trưởng hướng đạo sinh và Hội từ thiện Nam định mời xuống biểu diễn ở thành Nam. Buổi biểu diễn đã đem lại thành công rực rỡ. Nhưng theo lời ông thì “thành công lớn nhất trong chuyến đi ấy là chính tôi đã đệm đàn cho nữ ca sỹ thành Nam Vũ Hà Tiên hát một số bài nổi tiếng và qua công việc, tình yêu giữa hai chúng tôi đã chớm nở”. Vũ Hà Tiên là một tiểu thư nổi danh tài sắc, đặc biệt là giọng hát hay. Nhiều đàn anh nổi tiếng trong giới cầm ca như Đặng Thế Phong, Phạm Duy, Lê Thương cùng ngỏ lời cầu hôn nhưng không được cô đáp lại, thế mà chỉ một lần gặp gỡ Thiện Tơ đã may mắn lọt vào mắt xanh của giai nhân. Thế nhưng có một trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua. Đó là gia đình Hà Tiên mấy đời theo Thiên chúa giáo khó mà chấp nhận con gái kết hôn với người ngoại đạo. Do đó chàng nhạc sỹ đa tình phải liên tục con thoi đi về Hà nội – Nam định ròng rã bốn năm trời mới thuyết phục nổi bố mẹ, họ hàng nhà gái mới được “rước nàng về dinh”. Thiên tình sử hết sức lãng mạn nhưng cũng đầy gian nan. Giai nhân Vũ Hà Tiên đã gợi cảm hứng cho ông đã sáng tác được ca khúc “Giáo đường in bóng”. Hai năm sau tức năm 1940 nhạc phẩm “Gió chiều” ra đời. Cả hai nhạc phẩm đều lấy cảm hứng từ mối tình lãng mạn giữa ông và người đẹp thành Nam. Do chiến tranh, bản thảo của cả hai nhạc phẩm đều bị thất lạc mà ông không hy vọng tìm thấy. Thế nhưng gần đây có một người , mà lại là người nước ngoài tìm đến nhà ông trao tận tay ông bản chụp cả hai ca khúc đó. Số là có một người Mỹ chuyên sưu tầm nhạc Việt nam là Giây-xơn Gíp (Jason Gibb) trong lần đến Hà nội đã phát hiện ở Phòng lưu trữ Thư viện quốc gia bản thảo “Giáo đường in bóng” và “Gió chiều” rồi tìm cách trao cho tác giả của nó. Nói đến Thiện Tơ là nói đến một nghệ sỹ ghi-ta tài năng, một trong những nghệ sỹ ghi-ta đầu tiên của Hà nội, một người thầy tận tâm đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo ra thế hệ những nghệ sỹ ghi-ta đầu tiên của Hà nội. Ông là một trong số ít nghệ sỹ ghi-ta sử dụng thành thạo ba loại ghi-ta: ghi-ta gỗ, ghi-ta ha-oai và ghi-ta điện. Trong các buổi biểu diễn hoặc ghi âm ông đều thành công trong các loại hình độc tấu, hòa tấu, jazz hoặc đệm cho ca sỹ. Khoảng cuối năm 1944, ông tham gia ban nhạc jazz Mi-ô-dô-tít (Myosotis – Hoa lưu ly) cùng Nguyễn Hữu Hiếu – piano, Đỗ Xuân Cách – clarinette / saxophone, Ngô Văn Sợi – trompette, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Thái quý – contrebasse, Nguyễn Văn Long – violon, Hoan – percussion (bộ gõ). Ông cũng thường xuyên tham gia biểu diễn phát sóng trên một số đài phát thanh với nhóm Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Nguyễn Chí Nhường –saxophone, Nguyễn Trần Dư – violon. Trong nhóm này, nổi bật hai nhạc sỹ với hai xu hướng sáng tác thu hút được sự chú ý của giới âm nhạc lúc đó: Sáng tác nhạc mới nhưng có âm hưởng nhạc dân tộc do Thẩm Oánh chủ trương. Sáng tác hoàn toàn theo phong cách âm nhạc phương Tây do Dương Thiệu Tước chủ trương. Ông viết trên báo Việt Nhạc số 5 – 16/10/ 1948: "Nếu đã có nhà văn Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng có thể viết được những bản nhạc có âm điệu Tây Phương" Trong hoạt động biểu diễn nhạc jazz của Thiện Tơ thì gây ấn tượng nhất là ban nhạc jazz Tricéa mà ông là một trong những thành viên sáng lập. Ban nhạc gồm Doãn Mẫn (học trò ông) – ghi-ta, Lê Yên – violon, Văn Chung – tam thập lục. Nguồn gốc của tên ban nhạc là Tricéa là: tri – là tam tấu (trio), cé là chữ cái C trong tiếng Pháp – compositeurs (những nhà soạn nhạc), a là an-na-mít (annamite), nghĩa là “ ban tam tấu của những nhạc sỹ người Việt sáng tác và trình diễn”. Cũng có người giải thích bằng cách khác: tri là ba, Tricéa là “3 chữ C và A” trong cụm từ tiếng Pháp “Collection Des Chants Composés Par Des Artistes Annamites Associés” có nghĩa là "Tuyển chọn các nhạc phẩm được sáng tác bởi nhóm nghệ sỹ An-nam". Phong cách âm nhạc của Văn Chung chịu ảnh hưởng của nhạc Trung Hoa nên đã mang màu sắc Á Đông từ buổi đầu. Còn Lê Yên và Doãn Mẫn vẫn thiên về tiết tấu bay bướm nên gợi nhiều âm hưởng nhạc nước ngoài. Trong một bài phỏng vấn của báo Thể thao Văn hóa năm 2002, nhạc sỹ Doãn Mẫn kể: "Năm 1935, Lê Yên viết bài Bẽ bàng rất hay nhưng mãi không sao viết được câu kết. Nghe anh kể tôi liền đề nghị: Anh đàn lên đi, khi nghe xong, tôi tức khắc ứng khẩu. Được câu ứng khẩu như ý bạn tôi mừng như vớ được vàng. Đến năm 1955, tôi viết bài Gọi nghé trên đồng mà cũng không kết được và Lê Yên chính là người giúp tôi viết kết rồi anh ấy nói: sau tận 20 năm mình mới trả được nợ cho cậu". Những năm khoảng 1939-1040 nhiều ca khúc của nhóm được thính giả yêu thích như: Ca khúc ban chiều, Trên thuyền hoa, Bóng ai qua thềm của Văn Chung; Biệt ly, Sao hoa chóng tàn, Tiếng hát đêm thu của Doãn Mẫn; Bẽ bàng, Vườn xuân của Lê Yên. Cả ba nhạc sĩ của Tricéa đều thành công mà Doãn Mẫn có vẻ nổi bật. Họ đã để lại nhiều nhạc phẩm giá trị, một số được đánh giá là “vượt thời gian”. Nguyễn Thiện Tơ về hưu năm 1982 lúc 62 tuổi, nhưng những năm 1984, 1985 ông lại được mời dạy flute (fơ-luýt – sáo Tây) tại Nhạc viện Hà nội và Cung văn hóa Thiếu nhi. Ông chỉ nhận dạy ghi-ta cho một số người hết sức đặc biệt với ông. Ông nói: ghi-ta là nhạc cụ bề ngoài có vẻ đơn giản, tập ít tháng ai cũng có thể chơi được nhưng không ai, kể cả những bậc thầy thế giới, dám nói mạnh là mình đã khám phá hết tiềm năng của nó. Chỉ có những người chưa giỏi thực sự mới vỗ ngực khoe khoang. Cả đời tôi đã xách đàn biểu diễn nhiều nơi không biết bao nhiêu lần, mở biết bao khóa dạy đàn với hàng trăm học trò vậy mà còn biết bao bí ẩn bên trong cây đàn chưa kịp khám phá thì đã già mất rồi. Tôi rất yêu tiếng đàn của anh Bảo Lâm vì nó vừa trung thực vừa có cá tính. Nhiều lần cũng định vác đàn đến học hỏi anh ấy nhưng nghĩ mình tuổi đã cao nên lại thôi… Cây ghi-ta có mặt ở nước ta kể đã trăm năm. Từ lâu nó đã trở thành nhạc cụ thân quen với mọi người: từ biểu diễn âm nhạc hàn lâm, rồi Liên hoan cấp quốc gia đến phòng trào âm nhạc quần chúng. Thời chiến nó còn theo bộ đội đi khắp các chiến trường …Ngày nay, những người gắn bó với cây ghi-ta dù chuyên nghiêp hay không đều may mắn hơn thời chúng tôi vì có quá nhiều thuận lợi: dễ dàng tìm nơi học đàn, sách vở, băng đĩa rất sẵn lại còn có internet mà trên đó có thể tìm được mọi thứ. Đàn bây giờ cũng sẵn và dễ mua: từ loại vài trăm nghìn tiền Việt cho những học sinh nghiệp dư đến hàng chục nghìn đô-la cho những nghệ sỹ chuyên nghiệp. Lúc sắp chia tay ông mới ngán gọn tâm sự chuyện nhà: tôi năm nay đã chín hai, bà nhà cũng xấp xỉ, Trời còn cho sống nhưng cũng nhiều bệnh tật. Chúng tôi có năm trai, ba gái với khoảng ba mươi cháu chắt cũng tạm coi là “oanh liệt” được rồi. Những tay giang hồ kiếm khách nổi tiếng một thời nhưng rồi đến tuổi nào đó cũng phải rửa tay gác kiếm. Cánh đàn địch chúng tôi cũng vậy thôi, tầm tuổi này mới treo đàn cũng là hơi muộn. Tuy nhiên vẫn theo dõi thời cuộc, ấy là nói riêng về cây ghi-ta, mừng rằng ở ta vẫn phát triển mạnh và hứa hẹn nhiều triển vọng … (Theo ghi chép của Trần Xuân trong khi cùng các guitarist thế hệ sau của Hà Nội đến thăm guitarist già)
  6. Trong thời Trung cổ, các nhạc sĩ Tây Âu đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trong việc hệ thống hóa âm nhạc. Đó là sự hoàn thiện không ngừng cách ghi, đọc nhạc.Hiện nay vẫn còn giữ lại được những bản nhạc từ khoảng thế kỷ IX ghi âm theo lối "nơm" gồm những ký tự để thể hiện những âm thấp, cao, từ cao xuống thấp và ngược lại, 1 âm cao - 2 âm thấp, 2 âm thấp - 1 âm cao ... Lối ghi này dùng cho các bài đồng ca Gregoire có tiết tấu đều, nhịp độ tùy tiện và độ cao được quy ước trước. Mặc dầu lối ghi đó đã được cố gắng cải tiến nhiều nhưng để đạt được một bước tiến rõ rệt trong vấn đề ghi âm vẫn phải đợi Guido da Arezzo (Guido xứ Arezzo 990_995? -1050) Guido cho rằng: Vì giai điệu hát chỉ có một số âm không nhiều lắm nên sẽ rất tiện lợi nếu ghi nhớ các âm này tới mức khi nghe có thể nhận biết và phân biệt được chúng .” Để thực hiện được điều đó, ông chọn bài Him Cầu nguyện Thánh Joan của Diacon có lời như sau: Ut queant lascis Resonnare fibris Mira gestorum Famuli tuorum Solve poluti Labii rearem Sancte Iohanes Bài Him này có đặc điểm: những vần thứ nhất của sáu câu đầu tiên được phổ bằng những âm cao dần thêm một cung sau mỗi câu, riêng câu thứ tư cao hơn câu thứ ba nửa cung. Guido chọn 2 ký tự đầu của sáu vần đầu tiên đó đặt tên cho âm thanh và sáu âm có cao độ cao dần lần lược được ông đặt tên là Ut, Re, Mi, Fa, Sol, La. Đến cuối thế kỷ XVI, Anxen ở Falandri (chưa rõ nguyên ngữ) ghép 2 ký tự đầu của câu thứ bảy thành SI để đặt cho âm thứ bảy có cao độ cao hơn âm La 1 cung. Năm 1673, trong luận án “Âm nhạc thực hành” Bonôntrini (chưa rõ nguyên ngữ)đã đổi tên âm Ut thành Do vì cho rằng âm Ut khó hát vang. Đến thời kỳ này, lối ghi âm của Guido về cơ bản đã giống như ngày nay: các âm có tên gọi và được thể hiện trên năm đường kẻ. Theo Lịch sử âm nhạc thế giới Tập I – Nguyễn Xinh – Nhạc viện Hà nội 1983
  7. Chương trình rất thành công! Chúc mừng các nghệ sỹ và mong gặp lại mỗi dịp cuối năm!
×